Tham luận GIÁO DỤC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT HỌC ĐƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT 80/NQ-TW
Hội thảo khoa học: “Phát triển văn hóa Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 80/NQ-TW của Bộ Chính trị – Thực tiễn và những vấn đề đặt ra tại Thành phố Hồ Chí Minh” do Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức là diễn đàn trao đổi những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển văn hóa, con người trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hội thảo quy tụ các nhà quản lý, nhà khoa học và những người hoạt động thực tiễn, góp phần làm rõ những quan điểm, yêu cầu và nhiệm vụ mới về xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm đưa tinh thần của Nghị quyết vào thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, tăng cường sự kết nối giữa nghiên cứu khoa học – hoạch định chính sách – tổ chức thực hiện.
TS. Trịnh Đăng Khoa trình bày tham luận tại hội thảo
Trịnh Đăng Khoa, giới thiệu bài tham luận: “Giáo dục văn hóa nghệ thuật học đường trong phát triển con người toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW”.
TÓM TẮT BÀI THAM LUẬN
Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đặc biệt Nhiệm vụ 3 “Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại”. Nhấn mạnh về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về nhân cách, trí tuệ, thẩm mỹ và sáng tạo. Giáo dục văn hóa nghệ thuật học đường cần được nhìn nhận như một phương thức quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người. Nghị quyết xác định phát triển văn hóa, con người là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước” (Bộ Chính trị, 2026, tr. 1–2), đồng thời khẳng định quyền tiếp cận, tham gia, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của con người. Trên cơ sở đó, giáo dục văn hóa nghệ thuật không chỉ là một thành tố của giáo dục toàn diện mà còn là môi trường đặc thù góp phần hình thành hệ giá trị, nhân cách, năng lực thẩm mỹ và năng lực sáng tạo cho người học.
Về phương diện lý luận, mục tiêu giáo dục toàn diện được xác định theo hướng phát triển hài hòa “đức, trí, thể, mĩ” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018, tr. 4); Luật Giáo dục năm 2019 cũng xác định giáo dục hướng tới phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp. Trong cấu trúc đó, giáo dục văn hóa nghệ thuật vừa là nội dung vừa là phương thức giáo dục. Theo Trần Thị Thu Thủy, Nghiêm Thị Thanh Nhã và Lương Đức Thắng (2009, tr. 5), giáo dục nghệ thuật góp phần phát triển nhận thức, trí tưởng tượng, tư duy phê phán và năng lực sáng tạo. UNESCO (2006, 2010) tiếp tục khẳng định giáo dục nghệ thuật là thành tố thiết yếu của giáo dục toàn diện, có vai trò phát triển sáng tạo, tư duy phản biện và khả năng thích ứng. Thông qua hình tượng, cảm xúc, trải nghiệm và hoạt động sáng tạo, các giá trị chân – thiện – mỹ được chuyển hóa thành nhận thức, thái độ và hành vi. Vì vậy, giáo dục văn hóa nghệ thuật không phải lĩnh vực bổ trợ mà giữ vai trò đặc thù trong hình thành nhân cách, năng lực thẩm mỹ, năng lực văn hóa và sáng tạo của người học.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, giáo dục văn hóa nghệ thuật có điều kiện phát triển trong một hệ sinh thái đa dạng với các nhà hát, bảo tàng, thư viện, trung tâm văn hóa, không gian sáng tạo và mạng lưới cơ sở đào tạo chuyên ngành như Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các cơ sở đào tạo nghệ thuật công lập và ngoài công lập. Tuy nhiên, vị trí của giáo dục nghệ thuật trong nhà trường chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển con người toàn diện. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, ở tiểu học và trung học cơ sở, môn Nghệ thuật là nội dung bắt buộc với 70 tiết/năm cho mỗi khối lớp, trong đó Âm nhạc chiếm 35 tiết; đến trung học phổ thông, Nghệ thuật chuyển thành môn lựa chọn, với 70 tiết/năm đối với mỗi môn nghệ thuật được lựa chọn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Bên cạnh hạn chế về vị trí và thời lượng, nội dung còn thiên về truyền thụ, thiếu trải nghiệm và sáng tạo; kết nối giữa nhà trường với hệ thống thiết chế văn hóa – nghệ thuật chưa thường xuyên; khả năng thích ứng với môi trường văn hóa số còn hạn chế. Điều này cho thấy điểm nghẽn chủ yếu không phải ở sự thiếu hụt nguồn lực mà ở nhận thức, cơ chế kết nối và phương thức tổ chức giáo dục.
Từ đó, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp: (1) đổi mới nhận thức, chuyển từ quan niệm “giáo dục nghệ thuật như một môn học” sang “giáo dục văn hóa nghệ thuật như một phương thức phát triển con người”; (2) đổi mới nội dung và phương pháp theo hướng trải nghiệm, sáng tạo, tích hợp liên ngành, gắn với di sản, đời sống văn hóa đô thị và môi trường số; (3) tăng cường kết nối nhà trường với nhà hát, bảo tàng, thư viện, cơ sở đào tạo nghệ thuật, nghệ sĩ, nghệ nhân và không gian sáng tạo cộng đồng nhằm hình thành hệ sinh thái giáo dục mở; (4) phát triển đội ngũ giáo viên nghệ thuật thông qua đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn, tổ chức trải nghiệm và ứng dụng công nghệ, đồng thời hoàn thiện chính sách đãi ngộ phù hợp. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần khẳng định giáo dục văn hóa nghệ thuật là một phương thức đặc thù trong phát triển con người toàn diện, qua đó hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới.
Đọc kỷ yếu hội thảo theo đường dẫn này: https://heyzine.com/flip-book/2c3560a690.html
