PHƯƠNG PHÁP DÀN DỰNG CHƯƠNG TRÌNH VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
1. Nghệ thuật đạo diễn chương trình văn hóa nghệ thuật
1.1. Khái niệm
Đạo diễn là danh từ chỉ danh xưng dùng để chỉ một người hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp dàn dựng nghệ thuật.
Dàn dựng: tập và chuẩn bị đưa ra diễn trên sân khấu. (từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng – 1997). Dàn dựng: tập diễn xuất, biểu diễn (kịch, văn nghệ). (từ điển Hán-Việt-Viện ngôn ngữ học – NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2001)
Đạo diễn: là người chỉ huy và hướng dẫn toàn bộ công việc diễn xuất, trong nghệ thuật điện ảnh, sân khấu (từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng – 1997).
Đạo diễn: là người chỉ bảo, chỉ dẫn diễn xuất, biểu diễn.
Đạo diễn: là người cần có đủ 3 phẩm chất cơ bản sau: (1) Có tài năng phân tích và lý giải vai kịch, kịch bản; chỉ rõ việc thể hiện những vai kịch, kịch bản đó như thế nào. (2) Có khả năng mở ra tất cả những gì mà người diễn viên cần thể hiện trên sân khấu; hiểu thấu cá tính sáng tạo của diễn viên; theo dõi một cách liên tục ý đồ của tác giả và chỉ đạo diễn viên biểu diễn; nắm vững những mong muốn và tưởng tượng của họ thiên về đâu và đặt cho họ những nhiệm vụ đúng tầm; tôn trọng ý chí của diễn viên, hướng dẫn họ nhưng không áp đặt. (3) Có năng lực tổ chức toàn bộ vở diễn.
Đạo diễn: là một nghề được đạo tạo hiện nay tại các trường văn hóa, nghệ thuật. Trong quá trình vận động và phát triển của xã hội, trước những nhu cấu ngày càng cao của công chúng thưởng thức nghệ thuật, đòi hỏi lĩnh vực nghệ thuật cũng phải được chuyên môn hóa cao và sâu cho nên đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn những đạo diễn trong từng lĩnh vực bộ phận của công tác đạo diễn như đạo diễn âm thanh, đạo diễn ánh sáng, đạo diễn lồng tiếng… cũng như đạo diễn đối với từng lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật – giải trí khác trong xã hội như đạo diễn gameshow, đạo diễn lễ hội, đạo diễn chương trình, sự kiện…
Người đạo diễn chương trình văn hóa nghệ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo dựng nên những hình ảnh khác biệt, đặc trưng, mang giá trị nội dung và tính thẩm mỹ nghệ thuật cao cho mỗi chương trình. Đạo diễn chương trình văn hóa nghệ thuật là người chỉ huy và hướng dẫn tất cả mọi hoạt động trong một chương trình dưới góc nhìn thẩm mỹ – nghệ thuật.
Đạo diễn chương trình văn hóa nghệ thuật là người: (1) Lý giải kịch bản. (2) Tấm gương phản chiếu. (3) Tổ chức mọi hoạt động. (4) Người khán giả đầu tiên. (5) Người tổng chỉ huy một cuộc trình diễn.
1.2 Vai trò, nhiệm vụ, chức năng của đạo diễn
Vai trò: chuyển ngôn ngữ hành động kịch trong tác phẩm văn học kịch thành ngôn ngữ hành động sân khấu để diễn viên biểu diễn trong sự sắp đặt, dàn cảnh của các yếu tố thuộc điều kiện thiết kế khác để hợp thành tác phẩm sân khấu – chương trình văn hóa nghệ thuật
Nhiệm vụ: xây dựng hình tượng nghệ thuật cho tác phẩm, chương trình là nhiệm vụ tối cao, hàng đầu của người nghệ sĩ – đạo diễn.
Hình tượng nghệ thuật chính là thước đo giá trị – tài năng lao động của người nghệ sĩ.
Hình tượng là sự thật hiện thực của những hiện tượng cuộc sống được trí tưởng tượng sáng tạo của nghệ sĩ cải biến và khái quát. Sự sáng tạo của nghệ sĩ là dựa trên quy luật của cái đẹp, chính vì thế sáng tạo nghệ thuật là nhằm tạo ra các giá trị thẩm mỹ, giúp con người hưởng thụ các giá trị tinh thần (văn hóa thẩm mỹ) để nâng cao và làm giàu có hơn, phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần của bản thân.
Quá trình tạo dựng nên các hình tượng nghệ thuật trong các chương trình chính là quá trình nghệ sĩ từ trí tuệ và cảm xúc, tình cảm của mình đi lựa chọn các công cụ, phương tiện vật chất kỹ thuật và các hình thái (đặc trưng ngôn ngữ) của các loại hình nghệ thuật khác nhau để tạo nên lớp vỏ vật chất mang tính hình thức bên ngoài để chuyển tải một nội dung, tư tưởng nào đó mà kịch bản quy định. Nói cách khác, từ một nội dung tư tưởng đã được khẳng định trong kịch bản; người đạo diễn có nhiệm vụ phải đi tìm các hình thức phong phú, mới lạ, độc đáo để chuyển tải thông điệp đó tới người tham dự sao cho hấp dẫn, thu hút.
Tính hình tượng chính là phẩm chất tạo nên đặc điểm của tác phẩm nghệ thuật và làm nghệ thuật khác với những lĩnh vực hoạt động tinh thần khác. Mức độ cao nhất của nghệ thuật đạo diễn là xây dựng được một cách thành thục và có cảm hứng hình tượng nghệ thuật của vở diễn, chương trình nói chung.
Để tạo dựng nên hình tượng trong các chương trình người đạo diễn phải biết lựa chọn những tư liệu thực (không phải hư cấu) và tư liệu nghệ thuật để tạo dựng nên cách hình trạng và cảnh tượng vừa mang tính cụ thể, rõ ràng vừa mang tính khái quát, điển hình.
Như vậy, qua tài năng của người đạo diễn mỗi chương trình phải trở thành một tác phẩm nghệ thuật mang tính hình tượng cụ thể, rõ ràng và điển hình.
Chức năng:
(1) Lý giải kịch bản: là quá trình mà người đạo diễn đọc và phân tích kịch bản để hoàn thiện kịch bản trên hai phương diện cơ bản; thứ nhất là về mặt nội dung sao cho đảm bảo tính logic rõ ràng, tính tư tưởng chặt chẽ, tính mục đích cụ thể; thứ hai là về mặt hình thức phải suy nghĩ và tìm ra được các hình thức và cách thức để chuyển tải nội dung đó sao cho đẹp, hay và hấp dẫn. Cùng một nội dung có thể sẽ có nhiều cách lý giải hành động sân khấu khác nhau giữa những người dàn dựng, đó cũng chính là cái tôi cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ để từ đó hình thành nên những phong cách nghệ thuật khác nhau góp phần làm đa dạng hóa các chương trình văn hóa nghệ thuật trong thực tế.
(2) Hướng dẫn diễn xuất: diễn xuất của diễn viên trong một vở diễn hay của các nhân vật trong một chương trình là vấn đề quan tâm hàng đầu của quá trình sáng tạo một tác phẩm, bởi sẽ không là một vở kịch hay là một chương trình nếu ở đó không diễn ra những vấn đề mà con người đang mong muốn quan tâm và thể hiện mối quan tâm đó của mình. Hơn thế nữa, nếu không có tính mục đích hành động vì lợi ích cụ thể nào đó của con người thì chương trình văn hóa nghệ thuật cũng không tồn tại đúng nghĩa của nó “là hoạt động mang tính điểm tụ thu hút nhiều người quan tâm và tham dự”. Những con người đó được xuất hiện như thế nào, làm gì và làm ra sao đều không chỉ để đạt được một lợi ích nào đó nhất định mang tính vật chất cho riêng cá nhân mình mà còn phải hướng tới các giá trị khác như đi sao cho đẹp, nói sao cho hay, phát biểu sao cho ấn tượng, đứng như thế nào cho đẹp, tất cả đều cần phải mang đặc tính biểu diễn và đặt dưới sự chỉ huy chung của người đạo diễn.
(3) Tổ chức hành động: Vở diễn, bộ phim hay chương trình đều là một chỉnh thể nguyên hợp. Đánh giá sự thành công của một chương trình là đánh giá sức lao động tổng hợp của cả một tập thể. Đạo diễn là nghề tổng hợp, phải lao động cùng với một tập thể những người sáng tác, dàn dựng, kỹ thuật, biểu diễn và quần chúng cho nên muốn hay không muốn anh ta cũng phải thực hiện được sự huy động, nối kết và phân nhiệm rõ ràng cho từng người, từng bộ phận và khơi gợi nên trong họ khả năng sáng tạo, tinh thần tập thể và tính kỷ luật cao để cùng nhau tạo dựng nên một chương trình, tác phẩm hoàn mỹ.
Một hành động sân khấu đôi khi chỉ là 1, 2, 3 giây ngắn ngủi nhưng đó là những khoảnh khắc tập trung cao độ của diễn viên, âm nhạc, ánh sáng, đạo cụ, phim ảnh, quần chúng… nếu tất cả các bộ phận này độc lập sáng táo với nhau mà không hướng đích theo chỉ dẫn, điều khiển của người đạo diễn tất sẽ khó có được những khoảnh khắc hành động sân khấu đẹp, ấn tượng và đỉnh cao; hơn thế nữa nếu từng bộ phận công việc phát triển độc lập với nhau thì tác phẩm đó, chương trình đó không là một chỉnh thể nguyên hợp – một đặc tính quan trọng, tất yếu để tạo nên tác phẩm nghệ thuật nói chung trong đó có chương trình văn hóa nghệ thuật.
1.3 Hành động sân khấu
Hành động: là hình thức hoạt động của con người trong các mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội để nhằm đạt tới một mục đích gì, một kết quả nào đó. Hành động khác với hoạt động thông thường khác của con người bởi tính hướng đích của nó, nghĩa là hành động phải có định hướng mục đích. Hành động của con người là do ý chí chỉ đạo và có mục đích rõ rệt.
Trong đời sống con người có vô vàng hành động; có những hành động lớn có ý nghĩa xã hội rộng và cao cũng có hành động nhỏ chỉ có giá trị đối với một cá nhân riêng lẻ; có những hành động xảy ra liên tục, lâu dài cũng có những hành động chỉ diễn ra một lần, chốc lát; có hành động mang tính cá nhân cũng có hành động mang tính tập thể, cộng đồng… Nghệ thuật là sự phản ảnh cuộc sống, nhưng không phải hành động nào của cuộc sống cũng trở thành hành động kịch.
(1) Hành động kịch
Để hành động trong cuộc sống trở thành hành động kịch nó cần có những yêu cầu và đặc trưng cơ bản sau:
– Hành động phải tham trực tiếp hoặc gián tiếp vào một cuộc đấu tranh nhất định: (xung đột 3 cấp độ của nhu cầu) Nghĩa là hành động phải tham gia trực tiếp vào xung đột kịch. Bởi không có xung đột thì thì không dẫn tới sự đấu tranh, không có đấu tranh cho một lý tưởng xã hội, một quan niệm sống, một nhiệm vụ nào đó bằng sự phấn đấu, chống chọi khắc nghiệt, đầy bất trắc thì giá trị và ý nghĩa của hành động đó không đạt tới tính điển hình để làm tấm gương soi cho nhiều người. Mà hành động phản ánh trong kịch phải mang tính khái quát, điển hình do vậy hành động trong kịch có điểm khác với hành động trong cuộc sống ở chỗ là bao giờ nó cũng gây ra một hành động chống đối lại hoặc trái ngược lại ta gọi là phản hành động. Nói đơn giản là hành động trong kịch phải nhằm tạo ra xung đột kịch.
– Hành động phải có kịch tính: (tăng dần xung đột, dẫn tới đỉnh điểm và kết thúc) kịch tính là một phạm trù mỹ học chỉ sự va chạm, đấu tranh của những quan hệ đối lập giữa con người với nhau trong một hoàn cảnh nhất định, nhằm làm thay đổi tương quan của các mối quan hệ ấy và thông qua đó bộc lộ ra được những tính cách nhất định trong một quá trình nhất định. Nếu hành động không có kịch tính sẽ không dẫn tới sự phát triển, cao trào và mở nút trong cấu trúc kịch nghĩa là không có sự biến đổi, thay đổi trong quá trình đấu tranh giữa các nhân vật; đồng thời cũng không tạo dựng được tính cách điển hình của nhân vật kịch.
– Hành động phải phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc bộc lộ tư tưởng chủ đề của tác phẩm: (mục đích của chủ sở hữu sự kiện và nhu cầu của khách hành sự kiện chính là thỏi nam châm) tư tưởng chủ đề là vấn đề cốt lỏi của tác phẩm mong muốn đem tới cho người xem; đồng thời cũng là cái đích mà người nghệ sĩ cần phải đạt tới bằng mọi biện pháp nghệ thuật của mình. Tư tưởng chủ đề của tác phẩm như thỏi nam châm, nó có tác dụng hút vào kịch những hành động nào trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho việc bộc lộ tư tưởng của tác phẩm và sẽ gạt ra ngoài những hành động khác, dù chúng có ý nghĩa xã hội lớn lao, giàu kịch tính, sinh động, độc đáo đến mức độ nào nhưng lại không phục vụ gì cho việc làm sáng tỏ cái kết luận tư tưởng của tác giả hay đạo diễn.
(2) Hành động sân khấu
Hành động của con người thường biểu hiện ra bên ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau; có thể tạm phân ra làm 3 biểu hiện là: nghĩ, nói và làm (bằng động tác tay chân). Khi ta đang suy nghĩ, tính toán trong đầu óc mình kế hoạch làm một việc gì đó là ta đang hành động theo hình thức nghĩ ; đến khi ta thuyết phục ai đó điều mà mình đang nghĩ thì khi đó hành động ta được biểu hiện ra bằng hình thức nói; và khi ta ôm người khác vào lòng để thể hiện tình cảm, suy nghĩ của mình là ta đang biểu hiện hành động bằng hình thức làm. Tất nhiên sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối để ta dễ nhân diện ra đâu là hành động kịch đâu là hành động sân khấu mà thôi; trong thực tế cuộc sống cả 3 biểu hiện đó lúc này hay lúc khác chúng có thể đứng độc lập với nhau hoặc cùng lúc biểu hiện ra bên ngoài.
Nếu ta lựa chọn hành động và thể hiện chúng theo hình thức nghĩ và nói rồi thể hiện ra bằng văn bản những suy nghĩ và lời nói của các nhân vật thì ta đang là nhà viết kịch; cho đến khi những lời nói ấy trở thành hành động làm của người diễn viên biểu diễn trên sân khấu thì hành động đó mới là hành động sân khấu và bấy giờ ta trở thành người đạo diễn.
Tóm lại: Hành động kịch thường được biểu hiện thông qua việc nghĩ và nói còn hành động sân khấu thường được biểu hiện thông qua việc làm gì và làm như thế nào.
1.4 Ngôn ngữ dàn cảnh
Nghệ thuật dàn cảnh là hoạt động tư duy bằng những hình tượng tạo hình được chuyển tải thông qua diễn xuất của diễn viên cùng với các điều kiện thiết kế của sân khấu khi đạo diễn đã thấy rõ toàn bộ hành động kịch trong kịch bản.
Ngôn ngữ dàn cảnh thể hiện cuộc sống trên sân khấu một cách hình tượng và nhiệm vụ này chỉ có thể được thực hiện thông qua sự tổng hợp toàn bộ các phương tiện nghệ thuật và sức mạnh của sân khấu.
Dàn cảnh là phương tiện mạnh mẽ nhất trong việc bày tỏ tư tưởng – tình cảm, bày tỏ ý đồ của người đạo diễn. Ngôn ngữ dàn cảnh là phương tiện giải quyết hàng loạt nhiệm vụ như: khám phá hành động quán xuyến, hoàn thiện hành động diễn viên, tìm kiếm hành động hình thể của nhân vật và cuối cùng là không khí vở diễn mà trong đó hành động diễn ra. Tất cả những nhiệm vụ này diễn ra cùng một lúc do ngôn ngữ dàn cảnh tạo nên và chính chúng tạo nên ngôn ngữ dàn cảnh.
Tóm lại, có thể hình dung dàn cảnh là sự “sắp đặt” diễn viên trên sân khấu trong mối quan hệ cụ thể giữa họ với nhau và với cảnh trí, đạo cụ, âm thanh, ánh sáng… tại một thời điểm nhất định. Sự tương tác giữa những người biểu diễn với nhau và với các điều kiện thiết kế sân khấu tạo nên những cảnh diễn sống động, hấp dẫn của một cuộc sống thật sự sinh động trên sân khấu.
2. Công việc của người đạo diễn chương trình văn hóa nghệ thuật
2.1 Làm việc với kịch bản
(1) Tìm hiểu và phân tích các vấn đề sau:
– Xác định qui mô, tính chất của chương trình
– Xác định chủ đề, chủ đề tư tưởng của chương trình
– Xem xét điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí
– Xem xét lực lượng tham gia sáng tác, dàn dựng, biểu diễn
– Xem xét, cân nhắc giữa yêu cầu kịch bản với ý đồ nghệ thuật của người đạo diễn nhằm phát huy những tương đồng và điều chỉnh những cái chưa tương đồng (nâng cao kịch bản)
– Xem xét tính khả thi trong việc phối kết hợp với các bộ phận khác.
(2) Viết kịch bản phân cảnh (kịch bản đạo diễn)
Để đạo diễn, dàn dựng một chương trình nghệ thuật tùy theo tính chất, qui mô, nội dung, yêu cầu của từng chương trình cụ thể mà người đạo diễn có thể chọn một trong 2 cách dàn dựng thông thường sau:
– Dàn dựng trực tiếp: Nghĩa là sau khi đã nghiên cứu kỹ kịch bản văn học hoặc đề cương của chương trình người đạo diễn bắt tay ngay vào công tác dàn dựng, đạo diễn và trong qúa trình dàn dựng sẽ tiếp tục sửa đổi, bổ sung các chi tiết cần thiềt nhằm nâng cao kịch bản và chương trình.
– Viết kịch bản phân cảnh (Kịch bản đạo diễn): Nghĩa là từ kịch bản văn học hoặc đề cương sau khi đã nghiên cứu kỹ người đạo diễn bắt tay vào viết kịch bản phân cảnh để thể hiện rõ ý đồ dàn dựng xuyên suốt của mình đối với chương trình. Thông qua việc sáng tạo ra các thủ pháp nghệ thuật xử lý “màu sắc” cho từng tiết mục, xử lý mối nối giữa các tiết mục, phần, chương và cả chương trình.
2.2 Làm việc với bộ phận sáng tác
– Làm việc với nhạc sĩ, nhạc công các công việc như phối âm cho bài hát, sáng tác nhạc múa, chọn nhạc, nối nhạc, hoàn thành dĩa tiếng cho toàn bộ chương trình.
– Làm việc với biên đạo múa về hình thức, thể loại, tính chất từng tiết mục múa; múa độc lập hay minh hoạ…
– Làm việc với nhà viết kịch, viết lời dẫn, lời bình…
– Làm việc với họa sĩ và chuyên gia mỹ thuật, kỹ thuật về ý đồ thiết kế trang trí sân khấu, cảnh trí, âm thanh, ánh sáng, hiệu ứng sân khấu.
2.3 Làm việc với bộ phận biểu diễn
– Lựa chọn diễn viên phù hợp cho từng tiết mục
– Làm việc với từng nhóm diễn viên theo tiết mục, loại hình
– Làm việc với người dẫn chương trình
Chú ý: tránh chồng chéo diễn viên giữa các tiết mục liền kề nhau trong chương trình.
2.4 Làm việc với bộ phận dàn dựng
– Làm việc với người dựng hát cho các tiết mục trong chương trình (dựng ca một hoặc nhiều bè, xử lý kỹ thuật thanh nhạc, tình cảm…)
– Làm việc với người dựng múa
– Làm việc với người dựng kịch
…
2.5 Làm việc với bộ phận tổ chức biểu diễn
– Tổ phục trang, đạo cụ: làm việc với các nghệ nhân, chuyên viên chế tác đạo cụ, phục trang về qui cách mẫu mã, số luợng từng loại phục trang, đạo cụ..
– Tổ hậu đài sân khấu, phục vụ: làm việc với bộ phận phục vụ chuẩn bị về địa điểm, phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ tập luyện
– Trước khi bắt tay vào thực hiện cần tổ chức một cuộc họp chung để phổ biến kế hoạch, thời gian tổng thể và cụ thể từng buổi, ngày, tuần tập dợt và thời điểm cuối cùng phải hoàn thành chương trình.
– Từ kế hoạch chung các trợ lý, tổ đ
ạo diễn các chuyên ngành phải lập kế hoạch riêng (đề án đạo diễn phân cảnh, lịch tập dợt) cụ thể cho nhóm, tổ chuyên môn của mình nhằm tiến hành đồng loạt các công việc của từng bộ phận.
2.6 Tổ chức tập luyện, tổng duyệt và trình diễn chính thức
(1) Tổ chức tập luyện
Chuẩn bị trước khi tập luyện
– Liên hệ sân bãi và hệ thống phương tiện âm thanh, ánh sáng… để hỗ trợ công việc tập luyện chương trình
– Chuẩn bị các loại đạo cụ tập luyện tạm thời cho các tiết mục
– Chuẩn bị kỹ về máy hát, băng đĩa nhạc cho tiết mục tập luyện
Trong lúc tập luyện
– Quản lý diễn viên tập luyện (điểm danh, giờ giấc tập, giải quyết các tình huống phát sinh trong lúc tập)
– Đảm bảo an ninh, trật tự và tích cực hỗ trợ cho công tác tập luyện của người dàn dựng khi họ có yêu cầu
– công tác hậu cần: thức ăn, nước uống… phục vụ người tập luyện
Sau khi tập luyện
– Thu dọn và kiểm tra lại đạo cụ, các trang thiết bị đã tập luyện
– Thông báo nhắc lại lịch tập buổi sau
– Kiểm tra kỹ hệ thống điện, nước và vệ sinh sân bãi trước khi về
Hoàn thiện chương trình
Sau khi chạy tổng thể chương trình xong người đạo diễn cần bình tỉnh suy nghĩ, nhìn lại chương trình xem đã phản ảnh đầy đủ tinh thần của kịch bản phân cảnh chưa? Mặt được và chưa đựơc? Cần bổ sung thêm hoặc bớt gì? Từ đó tiếp tục sáng tạo, bổ sung, điều chỉnh để hoàn thiện chương trình.
Rèn luyện kỹ thuật – nâng cao chương trình
Khi đã định hình chương trình, các bộ phận phối hợp đã đồng bộ, thống nhất thì bước vào giai đoạn trau chuốt, rèn luyện kỹ thuật từng tiết mục, phần, chương để nâng cao chương trình.
(2) Tổ chức tổng duyệt
– Đây là buổi trình diễn đầu tiên để lãnh đạo duuyệt chương trình, chính vì thế nó có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tất cả mọi người tham gia chương trình, bởi vì ấn tượng ban đầu thường khó có thể quên đối với người xem. Nên cần quán triệt sâu sắc đến toàn thể những ngưới tham gia, những bộ phận có liên quan đến chương trình tinh thần, thái độ làm việc nghiêm túc, hết mình đồng thời cũng cần khích lệ, động viên họ tự tin, phấn khởi để trình diễn, phục vụ tốt cho chương trình.
– Sau khi lãnh đạo duyệt chương trình xong, người tổ chức và đạo diễn cần bình tĩnh, khách quan, khiêm tốn và có bản lĩnh nghề nghiệp để tiếp thu, cân nhắc những ý kiến đóng góp của lãnh đạo, bạn bè đồng nghiệp và khán giả dự tổng duyệt chương trình nhằm tiếp tục bổ sung, sáng tạo hoàn thiện lần cuối cùng chương trình.
(3) Tổ chức trình diễn chính thức
– Buổi diễn chính thức đầu tiên (có khi là duy nhất) đòi hỏi tập thể những người tham gia, các bộ phận liên quan phải chuẩn bị chu đáo, cẩn thận và nghiêm túc mọi công việc trước khi trình diễn để hạn chế mức thấp nhất các sơ suất, sai sót xảy ra trong suốt quá trình biểu diễn.
– Người tổ chức, đạo diễn và các trợ lý, phụ trách từng bộ phận, phải kiểm tra kỹ lưỡng từ đạo cụ, phục trang, băng – đĩa nhạc… đến những chi tiết nhỏ nhất có liên quan tới chương trình và phối hợp nhắc nhở diễn viên, các bộ phận liên quan, đồng loạt kiểm tra chu đáo các khâu chuẩn bị trước giờ biểu diễn chính thức ít nhất từ 15 đến 30 phút.
– Người tổ chức và đạo diễn cần tạo tâm lý thoải mái, tự tin, vui vẻ, giảm bớt căn thẳng để các diễn viên, các bộ phận phận phục vụ làm chủ được công việc của mình và hứng thú để trình diễn.
Xem tài liệu học tập theo đường dẫn này: Phương pháp Dàn dựng CT VHNT
